Một số quy định về thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án dân sự, hôn nhân và gia đ́nh, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính đă có hiệu lực pháp luật trước ngày 01-7-2016
Thứ Tư, 14/09/2016 07:21 SA (Xem nguồn)
Hội đồng thẩm phán TAND tối cao vừa ban hành nghị quyết số 02/2016/NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành một số quy định của Nghị quyết số 103/2015/QH13 ngày 25-11-2015 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 104/2015/QH13 ngày 25-11-2015 của Quốc hội về việc thi hành Luật tố tụng hành chính. Nghị quyết đă quy định rơ việc áp dụng pháp luật tố tụng dân sự và tố tụng hành chính để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm và xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án, quyết định dân sự, hôn nhân và gia đ́nh, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính của Ṭa án đă có hiệu lực pháp luật trước ngày 01-7-2016. Theo đó:
1. Kể từ ngày 01-7-2016, thẩm quyền và tŕnh tự, thủ tục kháng nghị giám đốc
thẩm, tái thẩm đối với bản án, quyết định của Ṭa án đă có hiệu lực pháp luật
trước ngày 01-7-2016 được thực hiện theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự số
92/2015/QH13 và Luật tố tụng hành chính số 93/2015/QH13.
2. Đối với những bản án, quyết định dân sự, hôn nhân và gia đ́nh, kinh doanh, thương mại, lao động của Ṭa án đă có hiệu lực pháp luật trước ngày 01-7-2016 mà kể từ ngày 01-7-2016 người có thẩm quyền kháng nghị mới kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm th́ căn cứ để thực hiện việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm được thực hiện theo quy định tại Điều 326 và Điều 352 Bộ luật tố tụng dân sự số 92/2015/QH13. Khi xem xét việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm và xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm th́ việc xác định thế nào là “có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng” và “có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật” quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều 326 Bộ luật tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 phải căn cứ vào các quy định của pháp luật tố tụng và pháp luật nội dung được áp dụng tại thời điểm ra bản án, quyết định bị đề nghị kháng nghị, bị kháng nghị.
Ví dụ:
Bộ luật tố tụng dân sự số 24/2004/QH11 đă được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 65/2011/QH12 không quy định về việc Thẩm phán phải tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ (chỉ quy định về phiên ḥa giải). Bộ luật tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 quy định khi giải quyết vụ án dân sự, Ṭa án phải tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và ḥa giải (Điều 210).
Năm 2015, Ṭa án thụ lư vụ án tranh chấp hợp đồng dân sự. Trong quá tŕnh giải
quyết, Ṭa án không tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công
khai chứng cứ và đă tiến hành xét xử sơ thẩm sau khi tổ chức ḥa giải không
thành. Sau khi xét xử sơ thẩm, bản án không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ
tục phúc thẩm nên đă có hiệu lực pháp luật trước ngày 01-7-2016. Đối với trường
hợp này, việc Ṭa án không tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận,
công khai chứng cứ như quy định tại Điều 210 Bộ luật tố tụng dân sự số
92/2015/QH13 không bị coi là “có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng” để xem
xét, kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm. Việc xác định quá tŕnh giải quyết
vụ án có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hay không phải căn cứ vào quy định
của Bộ luật tố tụng dân sự số 24/2004/QH11 đă được sửa đổi, bổ sung theo Luật số
65/2011/QH12.
3. Đối với những bản án, quyết định hành chính của Ṭa án đă có hiệu lực pháp
luật trước ngày 01-7-2016 mà kể từ ngày 01-7-2016 người có thẩm quyền kháng nghị
mới kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm th́ căn cứ để thực hiện việc kháng nghị
theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm được thực hiện theo quy định tại Điều 255
và Điều 281 Luật tố tụng hành chính số 93/2015/QH13. Khi xem xét việc kháng nghị
theo thủ tục giám đốc thẩm và xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm th́ việc xác
định thế nào là “có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng” và “có sai lầm trong
việc áp dụng pháp luật” quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều 255 Luật tố
tụng hành chính số 93/2015/QH13 phải căn cứ vào các quy định của pháp luật tố
tụng và pháp luật nội dung được áp dụng tại thời điểm ra bản án, quyết định bị
đề nghị kháng nghị, bị kháng nghị.
Ví dụ:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 29 Luật tố tụng hành chính số 64/2010/QH12 th́
Ṭa án nhân dân huyện, quận, thị xă, thành phố thuộc tỉnh có thẩm quyền giải
quyết những khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan nhà
nước từ cấp huyện trở xuống trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Ṭa án
hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước đó. Luật tố tụng hành chính
số 93/2015/QH13 quy định Ṭa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
có thẩm quyền giải quyết những khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành
chính của Ủy ban nhân dân cấp huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện trên
cùng phạm vi địa giới hành chính với Ṭa án (khoản 4 Điều 32 Luật tố tụng hành
chính số 93/2015/QH13).
Ngày 01-6-2015, Ṭa án nhân dân huyện A ra bản án giải quyết vụ án hành chính về
việc ông B khiếu kiện quyết định hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện
A. Bản án hành chính sơ thẩm đă có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày 01-7-2016, Ṭa án có thẩm quyền xem xét Bản án trên theo thủ tục giám
đốc thẩm không được căn cứ vào quy định tại khoản 4 Điều 32 Luật tố tụng hành
chính số 93/2015/QH13 để cho rằng Ṭa án nhân dân huyện A đă vi phạm nghiêm
trọng thủ tục tố tụng theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 255 Luật tố tụng
hành chính số 93/2015/QH13. Trong trường hợp này, Ṭa án phải căn cứ vào các quy
định của Luật tố tụng hành chính số 64/2010/QH12 để xem xét việc xác định thẩm
quyền giải quyết vụ án hành chính.
4. Kể từ ngày 01-7-2016, thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái
thẩm được thực hiện theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 và
Luật tố tụng hành chính số 93/2015/QH13, trừ trường hợp quy định tại khoản 5
Điều này.
5. Đối với trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 215 Luật tố tụng hành chính số
64/2010/QH12 mà chưa bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm th́ thời hạn kháng
nghị theo thủ tục giám đốc thẩm là 03 năm, kể từ ngày Luật tố tụng hành chính số
93/2015/QH13 có hiệu lực thi hành.