1. Trí
thông minh logic- toán học: Đây là vùng
phải làm với logic, trừu tượng, quy nạp, lập luận suy
diễn, và những con số. Trong khi người ta thường cho
rằng những người có trí thông minh này thường nổi trội
trongnhững môn như: toán học, cờ vua, lập tŕnh máy tính
và các hoạt động trừu tượng hoặc những con số, nơi khả
năng toán học ít hơn khả năng suy luận. Đây cũng là vùng
nhận dạng mẫu trừu tượng, tư duy khoa học và điều tra,
và khả năng để thực hiện các tính toán phức tạp.
2. Trí
thông minh không gian: Đây là vùng phải làm
việc với những tầm nh́n và phán đoán không gian. Những
người có trí thông minh thị giác-không gian mạnh mẽ
thường rất giỏi trong việc h́nh dung và tinh thần với
đối tượng thao tác. Họ có một trí nhớ thị giác mạnh mẽ
và thường có khuynh hướng nghệ thuật. Những người có trí
thông minh thị giác-không gian cũng thường có một cảm
giác rất tốt về phương hướng, ngoài ra họ cũng có thể có
sự phối hợp tay và mắt rất tốt, mặc dù điều này thường
được xem như là một đặc trưng của vận động cơ thể.
3. Trí
thông minh vận động: Đây là vùng dành cho
những chuyển động cơ thể. Trong vùng này, con người
thường thành thạo trong việc hoạt động thể chất như thể
thao hay khiêu vũ và thường thích các hoạt động phong
trào. Họ có thể thưởng thức diễn xuất hay biểu diễn, và
nói chung họ rất giỏi trong việc xây dựng và làm mọi thứ.
Họ thường học tốt nhất khi thể chất làm một cái ǵ đó,
chứ không phải đọc hoặc nghe về nó. Những người có trí
thông minh vận động cơ thể, mạnh mẽ dường như sử dụng
những ǵ có thể được gọi là bộ nhớ cơ bắp; tức là, họ
nhớ những điều thông qua cơ thể của họ, chứ không phải
bằng lời nói (bộ nhớ bằng lời nói) hoặc h́nh ảnh (bộ nhớ
trực quan). Những vận động đ̣i hỏi các kỹ năng và sự
khéo léo, độ dẻo dai, cũng như cần thiết cho khiêu vũ,
thể thao, phẫu thuật, làm thủ công, vv... Nghề nghiệp mà
phù hợp với những người có trí thông minh này bao gồm
các vận động viên, vũ công, diễn viên, diễn viên hài,
nhà xây dựng, và thợ thủ công
4.Trí
thông minh tương tác giao tiếp: Đây là khu
vực phải làm việc với sự tương tác giữa người với người.
Những người trong nhóm này thường hướng ngoại và có đặc
điểm là luôn nhạy cảm với những tâm trạng, cảm xúc, tính
khí, động cơ của người khác, và họ có khả năng hợp tác,
làm việc với người khác như một phần của nhóm. Họ giao
tiếp tốt và dễ dàng đồng cảm với người khác, và họ có
thể là những người lănh đạo hoặc những người đi theo. Họ
thường học tốt nhất bằng cách làm việc với người khác và
thường thích thú với các cuộc thảo luận và tranh luận
5.Trí
thông minh nội tâm: Đây là vùng phải làm
việc hướng nội và phản chiếu năng lực của chính chủ thể.
Những người có trí tuệ mạnh về điều này thường là người
hướng nội và thích làm việc một ḿnh. Họ có ư thức tự
giác cao và có khả năng hiểu được cảm xúc, mục tiêu và
động cơ của bản thân. Họ thường ham thích theo đuổi
những tư tưởng cơ bản cũng như triết học vậy. Họ học tốt
nhất khi được phép tập trung vào chủ đề của ḿnh. Thường
họ có một sự cầu toàn cao khi gắn với trí tuệ này
6. Trí
thông minh thiên nhiên: Bao gồm cả việc
hiểu biết về thế giới tự nhiên như động thực vật, chú ư
những đặc điểm của từng loài và phân loại chúng. Nói
chung, nó bao gồm cả việc quan sát sâu sắc về môi trường
tự nhiên xung quanh và có khả năng để phân loại những
thứ khác nhau tốt. Nó có thể thực hiện bằng cách khám
phá thiên nhiên, làm cho bộ sưu tập cho các loài, nghiên
cứu chúng, và nhóm chúng lại với nhau. Có kỹ năng sắc
bén về cảm giác - tầm nh́n, âm thanh, mùi, vị và xúc
giác. Quan sát một cách sắc bén về sự thay đổi của tự
nhiên và các mối liên hệ giữa các mẫu.
7. Trí
thông minh ngôn ngữ:
Trí thông minh bằng lời nói và ngôn ngữ thể hiện bằng
những từ ngữ, cách nói hoặc viết. Họ thường giỏi đọc,
viết, kể chuyện, và ghi nhớ từ và ngày tháng. Họ có xu
hướng học tốt nhất bằng cách đọc, ghi chú, lắng nghe bài
giảng, và qua thảo luận và tranh luận. Họ cũng thường
xuyên xử dụng kỹ năng giải thích, giảng dạy và các bài
diễn văn hay nói có sức thuyết phục. Những người có trí
thông minh bằng lời nói-ngôn ngữ học ngoại ngữ một cách
dễ dàng v́ họ có trí nhớ từ cao và thu hồi và khả năng
hiểu và vận dụng cú pháp và cấu trúc ..
8. Trí
thông minh âm nhạc: Đây là vùng trí tuệ
phải làm với các giai điệu, âm nhạc và thính giác.
Những người có tŕnh độ cao về âm nhạc thường rất nhạy
với âm thanh, nhịp điệu, và âm vực. Họ thường có khả
năng rất tốt và thậm chí tuyệt đối về ca hát, chơi nhạc
cụ và sáng tác nhạc. Khi có một thành phần trí tuệ âm
nhạc này, những người mạnh nhất có thể học tốt nhất
thông qua bài giảng. Ngoài ra, họ thường sử dụng bài hát
hoặc giai điệu để học hỏi và ghi nhớ thông tin, và có
thể thực hiện tốt nhất những màn biểu diễn âm nhạc