|
BỘ TƯ PHÁP - BỘ CÔNG
AN
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA VIỆT Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
|
|
Số:
03/2012/TTLT-BTP-BCA |
Hà Nội, ngày 30 tháng 3 năm 2012 |
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH
Quy định cụ thể
việc phối hợp bảo vệ cưỡng chế
trong thi hành án dân sự
![]()
Căn
cứ Luật Thi hành án dân sự ngày 14 tháng 11 năm 2008;
Căn
cứ Nghị định số 93/2008/NĐ-CP ngày 22 tháng 8
năm 2008 quy định về chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn của Bộ Tư pháp;
Căn cứ Nghị định số
77/2009/NĐ-CP ngày 15 tháng 9 năm 2009 quy định chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu
tổ chức của Bộ Công an;
Bộ
trưởng Bộ
Tư pháp và Bộ trưởng Bộ
Công an ban hành Thông tư liên tịch quy định cụ
thể việc phối hợp bảo vệ cưỡng
chế trong thi hành án dân sự.
Chương I
QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi
điều chỉnh
Thông tư này quy định cụ thể
việc phối hợp bảo vệ cưỡng chế
trong thi hành án dân sự (sau đây viết gọn là phối
hợp bảo vệ cưỡng chế) giữa cơ
quan thi hành án dân sự, cơ quan công an cùng cấp và cơ
quan, tổ chức, cá nhân có liên quan khi tổ chức
cưỡng chế thi hành án có huy động lực
lượng tham gia.
Điều
2. Đối tượng áp dụng
Thông
tư này áp dụng đối với:
1.
Cơ quan thi hành án dân sự;
2.
Cơ quan công an cùng cấp;
3.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến
việc phối hợp bảo vệ cưỡng chế
trong thi hành án dân sự.
Điều 3. Nguyên tắc phối
hợp
Việc phối
hợp bảo vệ cưỡng chế phải bảo
đảm các nguyên tắc sau đây:
1. Nhanh chóng,
kịp thời, hiệu quả, tuân thủ quy định
của pháp luật.
2.
Thực hiện đúng chức
năng, nhiệm vụ của từng cơ quan đã
được pháp luật quy định, không làm ảnh
hưởng đến hoạt động chuyên môn của
mỗi ngành.
3. Bảo đảm an toàn về tính
mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản
của nhân dân và những người tham gia cưỡng
chế.
Chương II
QUY ĐỊNH CỤ
THỂ
Điều
4. Phối hợp trong xây dựng kế hoạch
cưỡng chế
1. Trước thời điểm ban hành kế
hoạch cưỡng chế thi hành án dân sự ít nhất
10 ngày, thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự
phải cung cấp thông tin, trao đổi ý kiến với cơ quan công an cùng cấp và
các cơ quan, tổ chức có liên quan về các nội dung, yêu cầu cụ
thể của vụ việc cưỡng chế có huy
động lực lượng tham gia bảo vệ, bao
gồm:
a) Tên và địa chỉ của người
bị cưỡng chế;
b) Dự kiến thời gian, địa
điểm tiến hành cưỡng chế, biện pháp
cưỡng chế cần áp dụng;
c) Tóm tắt nội dung vụ việc cần
cưỡng chế; tính chất phức tạp của
vụ việc (đặc điểm địa bàn, tình
hình an ninh, trật tự tại địa phương,
diễn biến tâm lý, thái độ, khả năng
chống đối của đương sự);
d) Yêu cầu cụ thể của cơ quan thi
hành án dân sự về các nội dung cần phối hợp; dự kiến số
lượng người cần tham gia bảo vệ cưỡng
chế; các trang thiết bị, công cụ, phương
tiện cần thiết để phục vụ cho
việc bảo vệ cưỡng chế và dự trù kinh
phí chi cho việc bảo vệ cưỡng chế.
2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể
từ ngày nhận được thông tin, trao đổi ý
kiến, thủ trưởng cơ quan công an phải
trả lời về các nội dung đề nghị
phối hợp bảo vệ cưỡng chế của
cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp.
3. Trường hợp cơ quan công an cùng cấp
có ý kiến khác về yêu cầu phối hợp bảo
vệ cưỡng chế thì ngay sau khi nhận
được ý kiến, thủ trưởng cơ quan thi
hành án dân sự tổ chức cuộc họp với
đại diện cơ quan công an cùng cấp để
trao đổi, thống nhất biện pháp giải
quyết.
4. Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể
từ ngày thống nhất ý kiến với cơ quan công
an cùng cấp, Chấp hành viên phải dự thảo xong
kế hoạch cưỡng chế trình thủ
trưởng cơ quan thi hành án dân sự. Trên cơ sở
dự thảo kế hoạch cưỡng chế đó,
thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự tổ
chức cuộc họp với sự tham gia của cơ
quan công an cùng cấp, các cơ quan, tổ chức có liên quan
để tham khảo ý kiến. Cuộc họp đóng góp
ý kiến phải được tổ chức
trước ít nhất 10 ngày, kể từ thời
điểm cưỡng chế đã được
ấn định.
5. Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể
từ ngày tổ chức cuộc họp đóng góp ý
kiến vào dự thảo kế hoạch cưỡng
chế, Chấp hành viên phải hoàn chỉnh, trình thủ
trưởng cơ quan thi hành án dân sự xem xét, phê
duyệt. Kế hoạch cưỡng chế bao gồm các
nội dung được quy định tại khoản 2
Điều 72 Luật Thi hành án dân sự.
Kế hoạch cưỡng chế
được gửi ngay cho cơ quan công an cùng cấp và
các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan theo quy
định tại khoản 3 Điều 72 Luật Thi hành
án dân sự.
Điều
5. Phối hợp trong việc xây dựng kế hoạch và
phương án bảo vệ cưỡng chế
1. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể
từ ngày nhận được kế hoạch
cưỡng chế của cơ quan thi hành án dân sự cùng
cấp, cơ quan công an phải xây dựng kế hoạch
và lập phương án bảo vệ cưỡng chế.
Kế hoạch và phương án bảo vệ cưỡng
chế bao gồm các nội dung sau:
a) Nội dung kế hoạch
- Nêu rõ mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ
của công tác cưỡng chế, bảo đảm an
ninh, trật tự an toàn cho việc cưỡng chế;
tình hình có liên quan đến hoạt động bảo
vệ cưỡng chế;
- Giao nhiệm vụ cụ thể cho
người chỉ huy chung, người chỉ huy từng
lực lượng; phân công trách nhiệm cho từng
đơn vị chức năng trong việc chuẩn
bị lực lượng, phương tiện, vũ khí,
công cụ hỗ trợ và các phương tiện
nghiệp vụ cần thiết khác để phục
vụ cho việc bảo vệ cưỡng chế.
Đối với những vụ việc cưỡng
chế được đánh giá có khả năng xảy
ra nhiều diễn biến phức tạp thì phải có
lực lượng dự phòng và tăng cường thêm
các phương tiện như: phương tiện phòng
cháy, chữa cháy, thiết bị dò mìn, xe chở đối
tượng vi phạm pháp luật, khoá tay.
b) Nội dung phương án
- Nêu khái quát nhiệm
vụ và đặc điểm tình hình có liên quan, thời
gian, địa điểm thực hiện nhiệm
vụ;
- Dự kiến các
tình huống có thể xảy ra, trong đó đặc
biệt lưu ý đến tình huống chống
đối, gây hậu quả cháy, nổ, gây thiệt
hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản
của tổ chức, công dân, cán bộ, chiến sỹ
tham gia cưỡng chế và phương án giải
quyết các tình huống đó (nêu rõ nhiệm vụ của
người chỉ huy, trách nhiệm của cán bộ,
chiến sỹ trong từng tình huống cụ thể);
- Quy ước phối hợp giữa các lực
lượng và quy ước thông tin liên lạc;
- Phương án bảo vệ cưỡng
chế thi hành án dân sự phải được thể
hiện bằng văn bản, có sơ đồ kèm theo.
c) Việc xây dựng nội dung kế hoạch
và phương án bảo vệ cưỡng chế phải
được trao đổi, thống nhất giữa
cơ quan công an với cơ quan thi hành án dân sự
trước khi trình người có thẩm quyền của
cơ quan công an phê duyệt.
2. Kế hoạch và phương án bảo vệ
cưỡng chế đã được phê duyệt
phải được gửi ngay cho cơ quan thi hành án dân
sự cùng cấp để kịp thời triển khai
thực hiện.
Điều
6. Phối hợp triển khai kế hoạch cưỡng
chế, kế hoạch và phương án bảo vệ
cưỡng chế thi hành án dân sự
1. Trong trường hợp cần có sự
phối hợp của nhiều lực lượng
hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trên
địa bàn, thì thủ trưởng cơ quan thi hành án
dân sự đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân
dân cùng cấp chỉ đạo các cơ quan, tổ
chức, cá nhân đó có trách nhiệm phối hợp với lực lượng
công an để tham gia bảo vệ cưỡng chế
thi hành án.
2. Trước thời điểm cưỡng
chế 01 ngày làm việc, cơ quan thi hành án dân sự
phải tổ chức cuộc họp với cơ quan công
an cùng cấp và các cơ quan, tổ chức có liên quan
để bàn biện pháp triển khai kế hoạch
cưỡng chế, kế hoạch và phương án
bảo vệ cưỡng chế.
3. Cơ quan công an, các cơ quan, tổ chức có
liên quan có trách nhiệm tham dự cuộc họp
đầy đủ, đúng thành phần theo giấy
mời của cơ quan thi hành án dân sự.
Cơ quan thi hành án dân sự có trách nhiệm cung
cấp các thông tin về nội dung vụ việc, quá trình
tổ chức thi hành và bảo đảm kinh phí cho
việc cưỡng chế và bảo vệ cưỡng chế
theo đúng quy định.
4. Tại buổi cưỡng chế, việc
phối hợp được thực hiện như sau:
a) Lực
lượng cảnh sát được phân công bảo
vệ cưỡng chế thi hành án phải có mặt
từ khi bắt đầu đến khi kết thúc
vụ việc cưỡng chế để duy trì trật
tự và bảo đảm an toàn trong suốt quá trình
diễn ra cưỡng chế.
Các
lực lượng chức năng thuộc cơ quan công
an và các lực lượng khác được giao nhiệm
vụ phối hợp bảo
vệ cưỡng chế phải tuân thủ mệnh
lệnh và điều hành trực tiếp của
người chỉ huy thuộc lực lượng
Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp.
b) Lực
lượng tham gia bảo vệ cưỡng chế trong
phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình có
trách nhiệm thực hiện các yêu cầu hợp pháp của
người chủ trì, điều hành việc
cưỡng chế.
Điều
7. Phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã trong
việc cưỡng chế thi hành án dân sự
Cơ quan thi hành án dân sự
đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã nơi tiến
hành cưỡng chế cử đại diện tham gia
cưỡng chế thi hành án, huy động lực
lượng tại chỗ phối hợp với cơ
quan công an để tham gia bảo vệ cưỡng
chế thi hành án dân sự.
Điều
8. Phối hợp giải quyết các tình huống phát sinh
trong quá trình bảo vệ cưỡng chế
1. Trong quá trình
diễn ra cưỡng chế, chỉ huy lực
lượng Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ
tư pháp phải thông báo kịp thời cho người
chủ trì, điều hành buổi cưỡng chế thi
hành án dân sự biết những diễn biến phức
tạp về an ninh, trật tự có liên quan đến
công tác cưỡng chế thi hành án dân sự để có
biện pháp xử lý.
2. Khi
có vụ việc xảy ra thuộc phạm vi chức
năng, nhiệm vụ của cơ quan nào thì cơ quan
đó chủ trì xử lý, các cơ quan khác trong phạm vi
chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm
phối hợp. Trường hợp vụ việc xảy
ra thuộc thẩm quyền giải quyết của
nhiều ngành thì đơn vị nào phát hiện đầu
tiên có trách nhiệm giải quyết vụ việc theo
thẩm quyền, sau đó chuyển giao cho cơ quan có
thẩm quyền chính giải quyết. Nếu vụ
việc không thuộc thẩm quyền giải quyết
của các lực lượng đang làm nhiệm vụ
cưỡng chế thì phải báo cáo cấp có thẩm
quyền xem xét, quyết định.
3.
Trường hợp có căn cứ cho rằng vụ
việc có khả năng diễn biến phức tạp,
gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật
tự, an toàn xã hội mà lực lượng tiến hành
cưỡng chế chưa có biện pháp khắc phục,
giải quyết thì cơ quan công an có thể đề
nghị người chủ trì thực hiện việc
cưỡng chế xem xét, quyết định tạm dừng
việc cưỡng chế thi hành án.
Điều 9. Chi phí bảo vệ
cưỡng chế thi hành án dân sự
Chi
phí cho việc bảo vệ cưỡng chế thi hành án
dân sự được thực hiện theo quy
định của pháp luật về kinh phí cưỡng
chế thi hành án.
Chương III
TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Điều
10. Tổ chức họp rút kinh nghiệm
Định kỳ 6 tháng một lần, cơ quan
thi hành án dân sự chủ trì, phối hợp với cơ
quan công an cùng cấp tổ chức họp để
đánh giá, trao đổi và rút kinh nghiệm về kết
quả thực hiện việc phối hợp bảo
vệ cưỡng chế trong thi hành án dân sự. Trường
hợp cần thiết thì có thể mời các cơ quan,
tổ chức, cá nhân có liên quan tham gia.
Đối với những vụ việc
cưỡng chế có tính chất phức tạp, gây
ảnh hưởng đến an ninh, chính trị, trật
tự, an toàn xã hội ở địa phương thì
phải tổ chức họp bàn rút kinh nghiệm ngay.
Điều
11. Tổng kết, đánh giá và chỉ đạo thực
hiện
Định kỳ mỗi năm,
Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Bộ
Công an tổng hợp báo cáo, đánh giá tình hình thực
hiện việc phối hợp bảo vệ cưỡng
chế thi hành án dân sự giữa cơ quan thi hành án dân
sự và cơ quan công an các đơn vị, địa
phương để kịp thời chỉ đạo,
hướng dẫn và kiểm tra việc phối hợp
bảo vệ cưỡng chế thi hành án dân sự; có biện
pháp chấn chỉnh, rút kinh nghiệm, nhằm bảo
đảm cho việc phối hợp bảo vệ
cưỡng chế thi hành án được an toàn, hiệu
quả, đúng pháp luật.
Điều
12. Thông tin, báo cáo tình hình thực hiện
1. Tổng cục Thi hành án dân sự thuộc
Bộ Tư pháp, Tổng cục Cảnh sát thi hành án hình
sự và hỗ trợ tư pháp thuộc Bộ Công an là
đầu mối giúp Bộ Tư pháp, Bộ Công an trong chỉ đạo, hướng
dẫn, tiếp nhận thông tin, báo cáo và kiểm tra
việc thực hiện Thông tư này của cơ quan thi
hành án dân sự và cơ quan công an các đơn vị,
địa phương;
2. Cục Thi hành án dân sự, công an cấp
tỉnh có trách nhiệm chỉ đạo, kiểm tra, giám
sát cơ quan cấp dưới thuộc quyền thực
hiện việc phối hợp bảo vệ cưỡng
chế thi hành án dân sự; thông tin, báo cáo tình hình, kết
quả triển khai thực hiện Thông tư này.
Điều 13. Hiệu
lực thi hành
Thông tư này có hiệu lực thi hành kể
từ ngày 15 tháng 5 năm 2012.
Trong quá trình thực hiện, nếu phát sinh
vướng mắc cơ quan thi hành án dân sự và cơ
quan công an các đơn vị, địa phương báo
cáo về Bộ Tư pháp, Bộ Công an
(qua Tổng cục Thi hành án dân sự thuộc
Bộ Tư pháp và Tổng cục Cảnh sát thi hành án hình
sự và hỗ trợ tư pháp thuộc Bộ Công an)
để có hướng dẫn kịp thời./.
|
KT. BỘ
TRƯỞNG BỘ CÔNG AN THỨ TRƯỞNG
THƯỜNG TRỰC (Đã
ký) Thượng
tướng Đặng Văn Hiếu |
KT. BỘ
TRƯỞNG BỘ TƯ PHÁP THỨ TRƯỞNG (Đã
ký) Nguyễn
Đức Chính |