PHỤ LỤC VƯỚNG MẮC

TRONG THỰC HIỆN LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG

  

 

1. Những vấn đề cần sửa đổi

1.1. Về xác minh thi hành án

Theo khoản 1 Điều 44 Luật sửa đổi bổ sung quy định: “1. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày hết thời hạn tự nguyện thi hành án mà người phải thi hành án không tự nguyện thi hành th́ Chấp hành viên tiến hành xác minh; trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời th́ phải tiến hành xác minh ngay”. Một số địa phương cho rằng: Đối với những trường hợp quyết định thi hành án có nhiều người phải thi hành và có nơi ở, làm việc khác nhau th́ cân nhắc tới việc tăng thời hạn xác minh cho phù hợp với điều kiện thực tế để đảm bảo thời hạn thực hiện việc xác minh điều kiện thi hành án đúng pháp luật.

Do vậy, đề nghị sửa đổi khoản 1 Điều 44 Luật Thi hành án dân sự theo hướng tăng thời hạn xác minh điều kiện thi hành án từ 10 ngày lên 15 ngày đối với những quyết định thi hành án có nhiều người phải thi hành án...

1.2. Về việc phân loại án

Theo điểm b khoản 1 Điều 44a Luật sửa đổi, bổ sung quy định: “Người phải thi hành án phải thi hành nghĩa vụ về trả vật đặc định nhưng vật phải trả không c̣n hoặc hư hỏng đến mức không thể sử dụng được; phải trả giấy tờ nhưng giấy tờ không thể thu hồi và cũng không thể cấp lại được mà đương sự không có thỏa thuận khác” th́ được xác định việc chưa có điều kiện thi hành.

Một số địa phương cho rằng: Do đối tượng thi hành án không c̣n mà vụ việc đưa vào diện chưa có điều kiện thi hành án sẽ làm tăng lượng án tồn đọng kéo dài, không phù hợp với điều kiện thực tế. Đề nghị nghiên cứu để có biện pháp giải quyết triệt để vấn đề này.

1.3.Về kê biên tài sản

 Việc viện dẫn tại điểm c khoản 2 Điều 98 Luật cụ thể: “2. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày kê biên tài sản, Chấp hành viên kư hợp đồng dịch vụ với tổ chức thẩm định giá trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi có tài sản kê biên trong các trường hợp sau đây: …c) Thi hành phần bản án, quyết định quy định tại khoản 1 Điều 36 của Luật này” là không phù hợp. Trong trường hợp này, Chấp hành viên chủ động kư Hợp đồng bán đấu giá tài sản trong trường hợp thi hành án chủ động theo khoản 2 Điều 36 Luật (khoản 1 Điều 36 của Luật quy định về ra quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu).

Do vậy, đề nghị sửa khoản 2 Điều 98 Luật cho phù hợp.

1.4. Về việc kê biên quyền sử dụng đất

Tại Điều 110 Luật quy định về quyền sử dụng đất được kê biên, bán đấu giá để thi hành án, theo đó: “ 2. Người phải thi hành án chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà thuộc trường hợp được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai hoặc thuộc diện quy hoạch phải thu hồi đất, nhưng chưa có quyết định thu hồi đất th́ vẫn được kê biên, xử lư quyền sử dụng đất đó”. Tuy nhiên, Điều 188 Luật Đất đai năm 2013 quy định về điều kiện thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất, theo đó: “a) Có Giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật này”.

Như vậy, quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 110 Luật có sự mâu thuẫn với quy định của Luật Đất đai, gây khó khăn cho Chấp hành viên khi kê biên, bán đấu giá quyền sử dụng đất để thi hành án.

2. Đề nghị bổ sung

2.1. Về đ́nh chỉ thi hành án quy định tại Điều 50 Luật THADS

Theo quy định tại Điều 372 Bộ luật dân sự năm 2015 th́ căn cứ chấm dứt nghĩa vụ gồm “Bên có quyền và bên có nghĩa vụ ḥa nhập làm một”, “vật đặc định là đối tượng của nghĩa vụ không c̣n và được thay thế bằng nghĩa vụ khác”. Để phù hợp với quy định mới này của Bộ luật dân sự năm 2015, cần bổ sung vào Điều 50 Luật với 2 căn cứ quy định tại Điều 372 nêu trên để áp dụng thống nhất.

2.2. Về trường hợp những bản án, quyết định của Ṭa án cấp sơ thẩm được thi hành ngay

Theo quy định tại khoản 2 Điều 2 của Luật THADS quy định về những bản án, của Ṭa án cấp sơ thẩm được thi hành ngay, mặc dù có thể bị kháng cáo, kháng nghị: “a) Bản án, quyết định về cấp dưỡng, trả lương, trả công lao động, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp mất sức lao động hoặc bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tổn thất về tinh thần, nhận người lao động trở lại làm việc; b) Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời”. Tuy nhiên, tại khoản 2 Điều 482 Bộ luật TTDS năm 2015 đă bổ sung thêm một số trường hợp bản án, quyết định của Ṭa án cấp sơ thẩm được thi hành ngay, mặc dù có thể bị kháng cáo, kháng nghị gồm: khoản về bảo hiểm xă hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế, quyết định về tính hợp pháp của cuộc đ́nh công.

Để phù hợp với quy định mới này của Bộ luật dân sự năm 2015, cần bổ sung vào Điều 2 Luật với một số trường hợp bản án, quyết định của Ṭa án cấp sơ thẩm được thi hành ngay quy định tại Điều 482 nêu trên để áp dụng thống nhất.

2.3. Về thời hạn Ṭa án trả lời kiến nghị của cơ quan thi hành án

Tại khoản 2 Điều 170 của Luật THADS quy định về thời hạn Toà án nhân dân cấp cao, Ṭa án quân sự trung ương trả lời kiến nghị của cơ quan THADS theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm th́: “Trả lời kiến nghị của cơ quan thi hành án dân sự về việc xem xét lại bản án, quyết định của Ṭa án theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày nhận được kiến nghị”. Tuy nhiên, tại Điều 487 Bộ luật TTDS năm 2015 đă bổ sung thêm thời hạn phải trả lời trong trường hợp vụ việc phức tạp, đó là: “Trường hợp cơ quan thi hành án dân sự kiến nghị về việc xem xét lại bản án, quyết định của Ṭa án theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm th́ Ṭa án có thẩm quyền phải trả lời trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày nhận được kiến nghị; trường hợp vụ việc phức tạp th́ thời hạn trả lời không quá 04 tháng, kể từ ngày nhận được văn bản kiến nghị.

Để phù hợp với quy định mới này của Bộ luật dân sự năm 2015, cần bổ sung vào Điều 170 Luật về thời hạn phải trả lời trong trường hợp vụ việc phức tạp quy định tại Điều 487 nêu trên để áp dụng thống nhất.

2.4. Những vấn đề khác chưa có quy định

- Về chuyển giao nghĩa vụ thi hành án

Luật Thi hành án dân sự quy định trường hợp thi hành nghĩa vụ về tài sản mà người phải thi hành án chết; tuy nhiên, đối với trường hợp người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng tên chủ sở hữu, sử dụng tài sản đảm bảo thi hành án chết (trong các vụ việc tín dụng, ngân hàng) th́ luật chưa có quy định. Việc tài sản đảm bảo thi hành án là tài sản thế chấp đứng tên sở hữu, sử dụng của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được thông qua hợp đồng ủy quyền hoặc bảo lănh. Theo quy định của Luật dân sự khi bên ủy quyền chết th́ hợp đồng ủy quyền chấm dứt; trường hợp bên bảo lănh là cá nhân chết th́ bảo lănh chấm dứt, nghĩa vụ bảo lănh được chuyển giao cho người thừa kế. Theo đó, có thể thấy khi người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đứng tên chủ sở hữu, sử dụng tài sản đảm bảo thi hành án chết được xác định là sự kiện pháp lư ảnh hưởng đến việc xử lư tài sản đảm bảo thi hành án, nhưng Luật sửa đổi, bổ sung không quy định cụ thể đă ảnh hưởng đến quá tŕnh thi hành án.

- Về thi hành quyết định giám đốc thẩm

Khoản 50 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2011 và Điều 343 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 quy định thẩm quyền của Hội đồng xét xử giám đốc thẩm, theo đó, Hội đồng xét xử giám đốc thẩm có thẩm quyền hủy một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định của Ṭa án; sửa một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định của Ṭa án. Tuy nhiên, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 chưa quy định về thi hành quyết định giám đốc thẩm hủy một phần và sửa một phần bản án, quyết định của Ṭa án.

3. Đề nghị băi bỏ

3.1. Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 44a Luật sửa đổi, bổ sung th́ Thủ trưởng cơ quan THADS ban hành quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành khi chưa xác định được địa chỉ, nơi cư trú của người phải thi hành án, người chưa thành niên được giao cho người khác nuôi dưỡng. Cũng với lư do này, theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 48 Luật th́ Thủ trưởng cơ quan THADS ban hành quyết định hoăn thi hành án; khoản 3 Điều 9 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP hướng dẫn: Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án. Quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án phải ghi rơ việc thi hành án bị hoăn theo điểm b khoản 1 Điều 48 Luật thi hành án dân sự.

Như vậy, theo quy định trên với cùng một lư do chưa xác định được địa chỉ, nơi cư trú của người phải thi hành án, th́ cơ quan THADS phải ra 02 quyết định (chưa có điều kiện thi hành án và hoăn thi hành án) là chưa phù hợp. Để tránh việc áp dụng chồng chéo, không thống nhất, một số địa phương đề nghị xem xét băi bỏ điểm b khoản 1 Điều 48 Luật Thi hành án dân sự.

3.2. Theo khoản 1 Điều 52 Luật Thi hành án dân sự quy định về “kết thúc thi hành án”, trong đó: “có xác nhận của cơ quan thi hành án dân sự về việc đương sự đă thực hiện xong quyền, nghĩa vụ của ḿnh”.

Về vấn đề này, theo Điều 53 Luật Thi hành án dân sự quy định, th́ việc xác nhận kết quả thi hành án khi có yêu cầu của đương sự. Do vậy, quy định tại khoản 1 Điều 52 không c̣n phù hợp, v́ không phải mọi trường hợp các đương sự đều xin xác nhận. Việc xác nhận thi hành án, về cơ bản chỉ liên quan đến việc người phải thi hành án đang chấp hành h́nh phạt tù để làm căn cứ trong việc miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án tù giam có thời hạn.

Do vậy, để giảm bớt các thủ tục hành chính, đề nghị xem xét băi bỏ khoản 1 Điều 52 Luật.